Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2012

NGỘ ĐẠO LÀ GÌ?

"Ngộ đạo" (Gnose) là từ ngữ được dùng để chỉ một hiện tượng tổng quát mà người ta có thể khám phá thấy những biểu hiện qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử, khởi từ thế kỷ I, sau Công Nguyên, cho tới thời hiện đại, và "ngộ đạo thuyết" (gnosticisme) chỉ hiện tượng đặc biệt của thế kỷ II.

Xét là hiện tượng tổng quát, Ngộ đạo (từ Hy Lạp thông dụng có nghĩa là tri thức") là ảo tưởng 
về một tri thức hoàn hảo, được mạc khải, được chiếm hữu và truyền đạt bởi những người được khai tâm, với tham vọng đưa ra một giải thích toàn triệt về thế giới, về huyền nhiệm của hiện hữu, dựa trên cơ sở nhị nguyện (đối lập giữa thế giới sự thiện và thế giới sự dữ), và qua đó mở ra con đường cứu độ cho tinh thần. Ngộ đạo không chỉ là một phong trào cứu độ bằng tri thức; dưới góc độ lịch sử các tôn giáo, bản chất của ngộ đạo là một quan niệm nhị nguyện bài-vũ trụ (dualime anticosmique): Tri thức và cứu độ tự bản chất là xa lạ với thế giới xấu xa này. Cũng cần lưu ý đặc tính bí mật của nó, đặc tính này biến Ngộ đạo thành một tôn giáo của những người đã được khai tâm, và nội dung thường là thần thoại.

Hiện tượng này, một hiện tượng vừa đáng ngại vừa lôi cuốn, có thể nói đã bùng nổ vào thế kỷ II. Nhưng từ lâu nay, người ta chỉ biết về Ngộ đạo thuyết xuyên qua các tác phẩm Giáo Phụ, trong đó có tác phẩm của Irénée. Ngày nay với khám phá mới, công cuộc nghiên cứu đã có những tiến bộ lớn lao, đặc biệt là việc khám phá ra thư viện của một giáo phái Ngộ đạo ở Nag-Hammadi (Ai Cập, 1947): Khoảng 50 tác phẩm khác nhau, có cả một số tác phẩm được soạn thảo tận thế kỷ II, và đang được công bố.

Các khuynh hướng Ngộ đạo đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ I trong một khung cảnh địa lý chạy dài từ Palestine đến Tiểu Á. Những khuynh hướng này có lẽ đã có mặt trong bối cảnh của một vài tác phẩm Tân Ước. Thế rồi giáo phái hình thành và lan tràn khắp nơi. Vào thế kỷ II, nó lan tới Alexandria biến nơi này thành trung tâm của Ngộ đạo thuyết, đặc biệt là của một thứ Ngộ đạo thuyết "Kitô Giáo", cho mình là kẻ được ký thác truyền thống chính thực, và bậc thầy có ảnh hưởng nhất của chủ thuyết này là Valantin. Oâng này truyền bá giáo thuyết của mình sang tận Tây Phương. Đối tượng chính mà Irénée chống lại đó là Ngộ đạo của Valantin. Ngộ đạo chìm dần ở thế kỷ III, để rồi hầu như ngay lập tức, phái Maniché trỗi dậy thay thế, đây là chủ thuyết mà các Giáo phụ sẽ phải chống lại bắt đầu từ thế kỷ IV. Thánh Augustinô một thời là môn đồ của phái này trước khi trở thành đối thủ đáng sợ của nó.

Và một thời kỳ đầy biến chuyển về tôn giáo và văn hóa như là thời kỳ đầu Công Nguyên, nguyên nhân các giáo phái tuyên truyền thành công hẳn có thể hiều là vì các chủ đề mà Ngộ giáo khai triển đánh động con người một cách sâu xa. Chủ đề căn bản của Ngộ đạo là nỗi khắc khoải về sự dữ của cuộc hiện hữu trong thế giới này. Ngộ đạo xuất hiện như một biểu hiện của ý thức bất hạnh. Ý thức này làm nảy sinh nơi người Ngộ đạo cảm thức về một sự vong thân, một cuộc lưu đày, một sự tước bỏ so với một thiên đàng đã mất, so với sự hoàn hảo đã bị lãng quên. Ở trần gian này, con người cảm thấy lạc loài, bị xâu xé giữa thiện và ác, vật chất và tinh thần, linh hồn và thể xác, bị phá vỡ thành hai phái tính riêng biệt, tản mát trong thời gian. Con người mang nỗi hoài vọng da diết về sự duy nhất thuở đầu, một sự duy nhất mà chỉ có một thảm họa vũ trụ mới có thể phá tan để rồi sinh ra cái thế giới đổ vỡ này. Cứu độ hệ tại ở chỗ thoát khỏi vật chất và mọi thứ nhị nguyên mà nó đẻ ra, cứu độ là trốn thoát và trở về với thế giới hoàn hảo và thống nhất của tinh thần.

Con đường cứu độ nàm trong "tri thức", tri thức này vừa là nhận thức bẩm sinh về thân phận của tinh thần ở trần gian này, đồng thời là sự đắc thủ tri thức hoàn hảo, làm tăng triển nhận thức trên. Nhờ tri thức, con người ý thức về bản tính đích thực của mình là một hữu thể tinh thần. Ngộ đạo là việc tinh thần trở về với chính mình. Là tự biết mình, đúng như câu ngạn ngữ: "Anh hãy tự biết mình". Người khai tâm (initié) là người thủ đắc trí thức giải thoát này và như thế là đã được cứu độ. Nơi những kẻ khác, tinh thần còn đang ngủ yên, nhưng lời chỉ dạy có thể đánh thức nó. Cuối cùng những người khác, những "ngươi vật chất" chỉ được cấu tạo bằng những yếu tố xác thịt, tất sẽ bị hủy diệt vô phương cứu chữa. Như thế, các Kitô hữu theo Ngộ đạo tự xem mình như Giáo Hội của những người hoàn hảo, nòng cốt của những người được tuyển chọn, khai mào cho tất cả các trào lưu "Cathares" (tinh tuyền, thanh sạch) trong lịch sử Kitô giáo.

Về bản chất tai họa vũ trụ, nguyên lai của thế giới đổ vỡ này, các giáo phái mạnh ai nấy thêu dệt trên một phác thảo hoàn toàn mang tính chất thần thoại. Chính từ giai trật các hữu thể cấu tạo nên thượng giới, đã xảy ra biến chuyển làm phát sinh một Đấng tạo hóa dị hình, tác giả của thế giới này. Cũng chính từ thượng giới, một Quyền Năng đã xuống giải thoát những mảnh tinh thần bằng cách đem tri thức đến. Ở đây, cũng như chủ thuyết Maniché, Ngộ đạo thuyết hòa trộn đủ thứ thần thoại vay mượn ở các tôn giáo rất khác nhau, Người ta có những lý do để nghĩ rằng các Kitô hữu Ngộ đạo không nhất thiết lấy lại thần thoại này, nhưng không vì thế mà họ tránh được việc hủy hoại tận căn hữu thể và vai trò của Đức Kitô Cứu Thế.

PHÚC ÂM THEO THOMAS

(Khoảng năm 140)

Trình bày những chủ đề Ngộ đạo hay gần với Ngộ đạo: quan niệm nhị nguyên về con người, từ khước tính dục (trở về tình trạng ấu thơ), hoài vọng về sự duy nhất đã mất.

"Đức Giêsu nhìn thấy những đứa trẻ còn bú. Ngài nói với các môn đệ: Những trẻ bú này giống như những người bước vào Nước Trời.

Họ nói với Ngài: Vậy khi trở thành trẻ nhỏ, chúng con vào Nước Trời ư?

Đức Giêsu nói với họ: Khi các ngươi coi hai là một, và khi các ngươi coi nội giới như ngoại giới và ngoại giới như nội giới, và điều trên cao như diều dưới thấp, và khi các ngươi coi, đàn ông với đàn bà, chỉ là một thứ đến mức đàn ông chẳng phải đàn ông, đàn bà chẳng phải đàn bà, khi các ngươi làm hai mắt thay cho một mắt, một tay thay cho một tay, và một chân thay cho một chân, một hình ảnh thay cho một hình ảnh, bấy giờ các ngươi sẽ vào Nước Trời".

(P.V.F.LEvangile selon Thomas, 1959, p. 17-19)

THÁNH THI NGỘ ĐẠO DO HIPPOLYTE THÀNH ROMA LƯU GIỮ

Sự dữ của thế giới và hành động của Đức Kitô Cứu Thế
"Luật đầu tiên làm phát sinh vũ trụ là trí tuệ
Nguyên lý thứ hai, sau thọ sinh thứ nhất, là hỗn mang hỗn độn: hàng thứ ba, theo định chế của luật, rơi về phần linh hồn.
Vì lẽ đó, mang hình thái nước, linh hồn phiền sầu, là đồ chơi, nô lệ sự chết.
Có lúc được ban vương quyền, linh hồn vui hưởng ánh quang.
Khi bị đẩy vào bất hạnh, linh hồn đớn đau than khóc.
Rốt cuộc, có những lúc cùng đường nghẽn lối
Kiếp lang thang bất hạnh dẫn tới mê lộ khôn cùng
Bấy giờ Đức Giêsu nói: Lạy Cha, xin hãy nhìn!
Linh hồn gặp bất hạnh đang phiêu bạt trên thế gian, xa khỏi khí thiêng của Người.
Nó tìm cách trốn khỏi hỗn mang kinh tởm, nhưng biết đâu là lối ngõ băng qua.
Vì vậy, Lạy Cha, xin hãy sai con đến! Con sẽ xuống thế mang theo ấn tín
Con sẽ băng qua các hữu thể thần linh (éons): và mọi mầu nhiệm con sẽ mạc khải và dưới danh xưng Ngộ đạo, con sẽ truyền đạt những bí mật của thánh đạo."
(Philosophoumena, V.10 A. Siouville, Paris 1928, p. 162-163)

TÌM THẤY THƯ VIỆN CỦA MỘT PHÁI NGỘ ĐẠO

Vào năm 1945 hoặc 1946, các nông dân tình cờ khám phá thấy một chiếc chum đầy những cảo bản trong một ngôi mộ cổ, vùng Nag-Hammadi thượng Ai Cập. Ban đầu, chiếc chum bị bọn lái buôn dấu ở Ai Cập. Sau đó thu hồi lại được và giao cho các nhà chuyên môn. Trong chum có 13 quyển bằng chỉ thảo (papyrus) có bìa da bọc ngoài, chứa tất cả 49 văn phẩm khác nhau, viết bằng tiếng Copte. Các quyển này có từ thế kỷ II và IV. Qua nội dung các tác phẩm, người ta có thể biết chắc nguồn gốc của chúng: đây là thư viện của một phái Ngộ đạo, được đưa ra ánh sáng, sau 15 thế kỷ bị chôn vùi, nhờ khám phá đó.

Tập bản văn này cung cấp một tư liệu hầu như hoàn toàn mới mẻ về một nền văn chương hình thành từ thế kỷ II. Trong số các tác phẩm được tìm thấy, một số đã được Irénée và Hippolyte biết đến.

Chỉ nguyên tựa đề các tác phẩm cũng cho thấy tính chất lạ lùng và hết sức bí hiểm của nền văn chương này: Chúng ta thấy những tựa đề như: "Sách Thánh của Thần Khi vĩ đại vô hình", "Tư tưởng của Quyền lực vĩ đại", "Mạc khải của Adam cho con trai là Seth", "Khôn ngoan của Đức Giêsu" (đây thuần túy là sự phỏng tác có màu sắc Kitô giáo rập theo một khuôn mẫu ngoại giáo), "Tin mừng về chân lý" (Theo Irénée, Valentin có viết một tác phẩm mang tựa đề này), "Tin mừng theo Thomas", "Sách bí nhiệm của Gioan", "Khải huyền của Phêrô".v.v.

Các tác phẩm này cho thấy Ngộ dạo hầu chắc phát xuất từ bên ngoài Kitô giáo: với sự pha trộn đến lạ lùng các tôn giáo khác, ngộ đạo rõ ràng xuất hiện như một hình thái tôn giáo có khả năng hòa nhập vào những khung tôn giáo hết sức khác biệt. Ngoài ra, các văn phẩm đó mang lại một tư liệu chưa từng có về ngộ đạo "theo Kitô giáo", là thứ Ngộ đạo mà Irénée đã lên tiếng chống lại phái Ngộ đạo này, khi sát nhập Kitô giáo, đã tự cho mình mới là người biểu lộ Kitô giáo trong sự thuần khiết của nó. Vả lại, người ta nhận thấy nơi các phái Ngộ đạo, dù là theo Kitô giáo hay không, có những luận thuyết hết sức khác biệt nhau. Tuy nhiên, cái nhìn của chúng vẫn luôn luôn là sự đối lập giữa hai thế giới. Và do đó, trong các phái đạo theo Kitô giáo, họ không nhìn nhận vị Chúa thần linh nơi Đức Yêsu nhân trần, nơi Đấng chịu đóng đinh, cũng như không nhìn nhận Giáo Hội đích thực nơi cộng đoàn hữu hình, cơ chế của Giáo Hội Công Giáo.

Các luận đề lớn của ngộ đạo sẽ xuất hiện nơi học thuyết Manichée khởi từ thế kỷ III, và sẽ tiếp tục xuất hiện dọc theo các thời đại, chẳng hạn nơi phong trào Cathres hoặc Albigeois trong thời Trung cổ.

Là mục tử, Irénée hết sức nhạy cảm với sự tuyên truyền tích cực và khéo léo của các giáo phái trong các môi trường Kitô giáo, và là nhà thần học, Ngài cũng hết sức nhạy cảm với việc chính nền tảng đức tin bị đặt thành vấn đề bởi Ngộ đạo: nó dẫn tới tất cả những chia cắt hủy hoại - chia cắt giữa Thiên Chúa Tối cao và Đấng Sáng tạo, giữa công trình tạo dựng và công trình cứu độ, giữa con người và vũ trụ, giữa thân xác và linh hồn, giữa Cựu Ước, công trình của Đấng Sáng Tạo, và Tân Ước, mạc khải duy nhất của Chúa Cha. Nó đụng tới cả bản chất cứu độ: vong thân đích thực của con người là ở chỗ nào? Phải chăng chỉ duy có tri thức mới cứu thoát? Đâu là ý nghĩa của đời sống luân lý, của đời sống bí tích?. Hữu thể nhân linh phải chăng chỉ là bãi chiến trường của cuộc chiến siêu việt giữa Thiện và Aùc, và phải chăng Đức Kitô, Đấng Cứu độ, từ trời cao nhảy dù xuống trần gian này mà chẳng liên lụy gì với trần thế, và vai trò chính của Ngài chỉ là Đấng mạc khải của Ngộ đạo?. Nhập thể và mầu nhiệm Vượt qua mất hết ý nghĩa. Ngay cả nguồn mạch của đức tin cũng ra hư hoại vì nó không còn ở trong truyền thống Giáo Hội giải thích Thánh Kinh nữa, mà là trong truyền thống và các kinh thư bí mật của phái Ngộ đạo.

Bấy nhiêu vấn đề thường xuyên nằm trong chân trời tư tưởng của Irénée và đã đưa Ngài đến chỗ hình thành một nhãn quan ăn rễ sâu trong các thư Phaolô nhưng đồng thời có những nét độc đáo và đặc sắc riêng của nó.

MỘT HỆ THỐNG NGỘ ĐẠO

Giáo thuyết của Basilide (Ngộ đạo ở Alexandrie), do Irénée mô tả (Chống Ngộ đạo I, 24, 3-5).

"Theo ông ta, từ Chúa Cha không được sinh ra, trước tiên Trí Tuệ được sinh ra, rồi từ Trí Tuệ sinh ra Logos, từ Logos sinh ra Minh Triết, rồi từ Minh Triết sinh ra Khôn Ngoan và Sức mạnh, từ Sức mạnh và Khôn Ngoan sinh ra Đức hạnh, các Hữu Thể Thượng Đẳng (Archontes) và các Thiên Thần mà ông gọi là các Thiên Thần đệ nhất và do các vị này mà trời thứ nhất được dựng nên. Rồi, do lưu xuất từ cac thiên thần đó, những thiên thần khác ra đời, và đã dựng nên trời thứ hai tương tự như trời thứ nhất. Cũng thể cách như thế, những thiên thần khác nữa. đã làm ra trời thứ ba. Rồi từ hạng thiên thần đệ tam này, một hạng thứ tư phát xuất, cấp thấp hơn và cứ thế tiếp tục. Theo cách đó, các hạng Hữu thể thượng đẳng và các thiên thần nối tiếp nhau xuất hiện và cho đến 365 tầng trời. Chính vì lẽ này mà có cùng con số ngày trong năm, hợp với số các tầng trời.

Các thiên thần ở tầng trời bên dưới, tầng trời mà chúng ta nhìn thấy, đã tạo nên tất cả những gì trần gian chứa đựng và chia sẻ với nhau mặt đất và các quốc gia trên đất. Vị Tổng lãnh Thiên Thần này được coi như là Thiên Chúa của người Do Thái. Vị này, vì muốn đặt mọi dân tộc khác dưới tay người của mình, nghĩa là người Do Thái, đã bị các Hữu thể thượng đẳng khác đứng lên đánh lại. Cũng vì lẽ đó mà các dân tộc khác đứng lên chống lại dân tộc Do Thái. Bất giờ Chúa Cha, Đấng không được sinh ra, không thể gọi tên, nhìn thấy sự gian ác của Hữu thể thượng đẳng, đã sai phái Trí Tuệ, Trưởng tử của Người - chính là Đấng mà người ta gọi là Kitô - để giải thoát những ai tin vào Ngài khỏi ách thống trị của nhữngTác giả tạo nên thế gian này. Ngài xuất hiện nơi các dân tộc của các Hữu thể Thượng đẳng, trên trần gian, dưới hình dạng một con người và Ngài thực hiện những việc lạ lùng. Bởi thế, chính Ngài không chịu khổ nạn, nhưng một Simon de Cyréné nào đó đã bị trưng dụng và đã vác thập giá thay cho Ngài. Và chính Simon, vì không biết và lầm lạc, đã bị đóng đinh.

Vậy kẻ nào "biết" điều đó thì được giải thoát khỏi các Hữu thể Thượng đẳng, tác giả của thế giới này. Và người ta không cần tuyên xưng những kẻ đã bị đóng đinh, nhưng là Đấng đã đến dưới hình dạng con người, ra vẻ bị đóng đinh, được gọi là Giêsu, và đã được Chúa Cha sai đến để triệt hạ những công trình của các Tác giả tạo thành thế giới, nhờ "nhiệm cục" đó. Basilide nói: Nếu ai tuyên xưng Đấng-bị-đóng-đinh, kẻ đó còn đang là nô lệ và ở dưới sự thống trị của những kẻ đã tạo nên các thân xác; nhưng người nào chối bỏ Đấng ấy, người đó được giải thoát khỏi quyền lực của họ và nhận biết "nhiệm cục" của Chúa Cha, Đấng-không-được-sinh-ra.
Cứu độ chỉ dành cho linh hồn, vì thân xác tự bản tính là hư hoại. Biểu hiện thông qua câu Chuyện bó đủa bạn có thể hiểu thêm nhiều cách khác giống nhau mỗi đạo đều có trường phái và quan điểm chung là dẩn chúng ta ránh xa điềm xấu phòng tránh sự hiểu lầm ,đố kỵ nghi ngờ cực đon http://brhuynhquang.org/?p=43

Cô Gái Bắc Kỳ - Huỳnh Thi

BẢN CHẤT TIỂU NHÂN

Hiểm nguy, hổ cũng cụp đuôi,
Khốn cùng, bản chất con người bộc ra.
Xưa kia luồn cúi ba hoa,
Ra vào cửa hậu, nhờ Bà cậy Ông.
Quan cao, nhà rộng mênh mông,
Mánh mung, thâm lạm của công làm giàu.
Cấp trên, nịnh đội lên đầu,
Tùy tùng, khai thác như trâu kéo cầy.
Chậm chân chạy, phải vào đây,
Gian lao đói khổ khác ngày quyền uy.
Tâm đen bần tiện tức thì,
Lộ qua lời nói hành vi đê hèn.
Lưu manh sống cạnh người hiền,
Khác đâu lang sói ở bên đàn cừu.
Lúc sang, kênh kiệu mỹ miều,
Gặp khi hoạn nạn, xoay chiều hại nhau.
Canh ngon, hỏng tại bọ sâu,
Cây tươi, héo chết vì bầu mối xông.
Nhẹm đi ấm ức trong lòng,
Viết ra cho đỡ tức hông tuổi già.

Con Gái Bắc Kỳ - Diên Vỹ

Sự thảm họa cay đắng

Con người từ khi ra đời đã tồn tại cái tôi. Tự điển Thesaurus định nghĩa về cái tôi (hay ngã kiến - egoismism/the selfness) là sự tự nhận thức của một người về tư cách, nhân phẩm hoặc giá trị của chính mình, đặc biệt là để phân biệt mình với thế giới bên ngoài và các cá nhân khác.
Cái tôi trong mỗi người phát triển theo thời gian trong quá trình sống của con người... Khi còn nhỏ người ta ít bị các yếu tố xã hội tác động vào nhận thức về chính mình, nói cách khác, cái tôi được phát triển tương đối độc lập. Một em bé sẽ ít bị tổn thương hay bị chạm tự ái như người lớn khi bị phê bình hay khiển trách. Trẻ em thường quên rất mau và ít khi “để bụng” những chuyện buồn phiền. Trong khi đó người lớn có thể tức giận rất lâu và phản ứng rất nặng nề nếu bị chạm tự ái.
Quan niệm về cái tôi thường được hiểu theo hai khía cạnh: (1) Tích cực: sự hãnh diện phù hợp về những giá trị, nhân phẩm của chính bản thân; (2) Tiêu cực: sự nhận định sai về những giá trị, nhân phẩm của mình đưa đến sự tự ti hay tự tôn.
Ở đây không bàn đến trường hợp của một người hay nhún nhường hoặc thường khoe khoang vì lý do nào đó trong giao tiếp xã hội. Nếu một người không nhìn thấy được giá trị của chính mình sẽ cảm thấy bi quan và dễ bị tổn thương. “Mình thật chẳng làm nên trò trống gì là vô tích sự”, “Tôi thật là xấu xí, “Chẳng ai ưa tôi cả”… đó là một số những suy nghĩ thường có của một số những người luôn hoài nghi về giá trị thực sự của mình.
Khi bị chìm đắm trong sự tự ti, mặc cảm, người ta thường suy diễn, so sánh mọi thứ, mọi việc để cuối cùng tự cho mình là kẻ thua cuộc dẫn đến thái độ bi quan hoặc chán ghét mọi thứ xung quanh mình, đặc biệt là có ác cảm với những người mà họ cho là ba hoa, phô trương và kiêu ngạo... Không hài lòng với chính mình, ta cũng chẳng vui vẻ, cởi mở với ai. Tự ti có xu hướng sinh ra tự tôn. Khi bị đè nén, cái tôi bị bóp méo và khi chính chủ nhân thổi phồng nó lên (sau khi đã đè nén nó), thì cái tôi đó nó lại là sản phẩm của trạng thái tâm lý không tự chủ và giả tạo.
Tôi rất tâm đắc với một câu chuyện kể về Đức Đạt Lai Lạt Ma, người có một quan điểm đơn giản nhưng rất thiết thực về cách làm sao để tìm thấy sự tự tin cho mình. Khi được hỏi: làm sao Ngài có thể tự tin thuyết giảng trước đám đông hàng ngàn người, hoặc không e dè ngại ngần khi bắt chuyện với một người hoàn toàn xa lạ? Ngài trả lời: “Hãy thành thật với chính mình”.
Sự chân thành cộng với việc đánh giá đúng mức khả năng và những giá trị thực có của chính mình sẽ giúp chúng ta mạnh dạn hơn, cởi mở hơn với thế giới quanh ta cũng như sẵn sàng đón nhận để vượt qua các chướng ngại trong cuộc sống. Qua đó, nếu bạn cảm thấy thiếu hụt về một lĩnh vực nào đó, bạn không nên mất tự tin, bởi vì bạn biết rằng bạn còn có những giá trị khác. Cũng giống như một đứa bé gái khi bị trêu chọc là sún răng, nó liền hỏi lại: “Còn đôi mắt con thì sao?”. Nghĩ rằng mình có đôi mắt đẹp, cô bé đó muốn được nhìn nhận ưu điểm này của nó. Nó làm điều đó một cách tự nhiên, chân thành, không mặc cảm, không sợ bị đánh giá. Nếu “chịu khó” và chân thành (nghĩa là công bằng với chính mình) trong cuộc tìm kiếm, chắc chắn mỗi người sẽ tìm thấy những giá trị riêng của chính mình.
Thế thì một người phụ nữ nội trợ sẽ không thấy mất tự tin vì nghĩ rằng mình không tạo ra đuợc thu nhập và có vị trí xã hội như những người khác. Là một người vợ và một người mẹ tốt, giá trị của họ vô cùng to lớn đối với gia đình của họ và do đó họ tất nhiên là những người rất cần thiết trong xã hội. Một người không có diện mạo xinh đẹp vẫn có thể gây thiện cảm với mọi người xung quanh họ nếu người ấy thân thiện và vui tính.
Không những chỉ dừng lại ở việc tìm thấy và trân trọng những giá trị sẵn có của mình, con người còn có thể phát triển thêm những giá trị mới cho chính mình. Điều này cũng tương tự như việc các công ty trong quá trình phát triển giá trị thương hiệu đã không ngừng phát triển những dịch vụ cộng thêm (value adding service) cho khách hàng của mình. Ví dụ như các đại lý bán vé máy bay phát triển thêm dịch vụ giao vé tận nhà, hướng dẫn lộ trình bay, tư vấn cách chọn chuyến bay…
Mỗi người chúng ta cũng vậy, ai cũng có thể tạo thêm giá trị cho “thương hiệu” của chính mình bằng những việc làm đơn giản nhưng thiết thực, ví dụ như thể hiện sự quan tâm với những người xung quanh, sống vui vẻ, hòa nhã với mọi người, xây dựng những mối quan hệ tốt với người thân, bạn bè… Mọi nỗ lực dù nhỏ nhoi nhưng đều mang lại những kết quả đáng kể.
Khi tạo cho mình được nhiều giá trị, làm cho “cái tôi” của mình đẹp hơn, người ta sẽ cảm thấy tự tin, cởi mở và tìm thấy cũng như tạo ra được nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống. Thấy hiểu được giá trị thật về cái tôi của mình, người ta có thể “là chính mình” và sống thật với mình hơn. Họ sẽ không bị môi trường chung quanh chi phối cách nhìn về “cái tôi” của họ, không mặc cảm tự ti, không dễ bị tổn thương hay “chạm tự ái” với những câu nói, hành vi và thái độ dù vô tình hay cố ý của những người khác.
Tuy nhiên, ranh giới giữa việc nhận thức cái tôi tích cực và cái tôi tiêu cực là rất mong manh. Cái tôi một khi bị thổi phồng lại thường gây ra nhiều đổ vỡ, trở ngại… vì hình như cái tôi lại thường hay phát triển và được phóng đại cùng với cái tài. Cho nên căn bệnh “cái tôi quá to” cố hữu về sự kiêu ngạo và cố chấp trầm kha thường lại rơi vào những người có những thành công nhất định trong xã hội.
Một người leo lên nấc thang danh vọng, địa vị càng cao, thì cái tôi mà họ vác trên vai dường như càng nặng. Vì thế nếu khi một người bình thường đón nhận sự bất đồng về ý kiến của người khác một cách cởi mở, thì các “sếp” có thể xem đó là “không thể chấp nhận được”. Chính cái tôi quá lớn đã giam cầm một số người trong nhà tù của sự tự mãn và kiêu căng của chính mình. Mà đã là tù nhân thì làm sao có hạnh phúc?
Vậy làm sao cởi bỏ được cái gánh nặng cái tôi đó ra? Làm thế nào để kiểm soát được trạng thái tâm lý tự ti mặc cảm, hay ngược lại, tâm lý tự cao tự đại của mình? Làm sao để có thể vượt ra khỏi cái tôi tiêu cực, cái bản ngã nghiệp chướng của chính mình để có thể là một người tự do, được sống hồn nhiên yêu đời và hạnh phúc?
Khi chê ai đó có cái tôi quá lớn, người ta thường nói “cái tôi của hắn to bằng quả núi”, hoặc “anh ta tưởng anh ta là cái rốn của vũ trụ”, là “trung tâm của thế giới”… Như vậy, vô hình trung, chúng ta đã thừa nhận mình chỉ là những cá thể rất nhỏ trong một vũ trụ rộng lớn. So với vũ trụ và thế giới chung quanh, quả thật mỗi cá nhân chúng ta chỉ là những hạt nhân nhỏ bé. Những hạt nhân này khi di chuyển va đụng vào nhau, giao tiếp, hỗ tương với nhau, sau đó lại di chuyển tiếp trong quỹ đạo của riêng mình trong vũ trụ.
Đã không phải là vũ trụ mà chỉ là “cái rốn” của vũ trụ, thì tại sao lại dám xem mình là cả vũ trụ? Bên cạnh đó, mỗi cá nhân là một thực thể tồn tại, phát triển, sinh ra và mất đi, có sự hình thành và cấu tạo rất riêng biệt, với những giá trị nhất định riêng trong thế giới này. Mỗi hạt nhân tuy nhỏ bé nhưng đều có một chỗ đứng nhất định trong mối tương quan với vũ trụ và các hạt nhân khác, và không tồn tại vĩnh viễn trong một thực thể nhất định.
Cuộc đời có giới hạn, vậy thì tại sao chúng ta phải mang vác cái tôi nặng nề mà không cởi bỏ nó, để làm một người tự do, ung dung, tự tại và được là chính mình trong cuộc đời này?

Nước mắt ngọt ngào


Cô đơn

" Thức đêm mới biết đêm dài 
Ở lâu mới biết lòng người trước sau "

Châu là một đứa dại khờ đi suốt năm rồi trí nhớ ,năng lực xuống dốc vẫn dốt tính toán không biết gì thì giận ,tánh nóng khó kiềm chế lúc bức xúc nói nhiều luôn là tiêu điểm Chịu đấm ăn sôi thừa biết là sự lừa gạt nhưng luôn mê mụi . Sai lầm nối tiếp oan trái Châu không vượt qua điềm Ác ,tự nhìn trời trách quỷ thần ,tự hỏi mình tại vì sau,như thế nào nổi hận ấy luôn trút
 lên đầu người thân của mình ,sau nhiều năm suy nghĩ ,luôn lập lại ký ức trái tim ta nhìn thấy sự thất bại của mình khi muốn Có sự thông Cảm làm thế nào nhận biết người tri kỷ biết nhượt điểm,biết u điểm hổ trợ mình dù không thể nào có nên quyết tâm tự Chậu tạo ra một người để lựa chọn trong quân bình người Chơi,quen biết muốn  người đó thực hiện ước mơ khi ta thiếu " Hạnh phúc " như một sự trao đổi mình muốn nó thật sự dành cho người khác đáng quý trọng hơn

Vận tài ,báo linh


Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

Kết nối thầm một lá thư không tên

Bao đêm suy tư ngước nhìn bầu trời như một tên điên  ,đồng hồ đã hơn 2 giờ sáng .Tôi không hề biết bẩn thân mình vô dụng như vậy nó cứ ròng rả khóc mít ước như con gái ,khi mà những giây phút không vui làm  trái tim nghẹn ngạo đao thắt chặt lại điệp khúc ấy cứ hiện ra trước mặt

 Quá khứ gì đã qua tôi không biết làm sau xóa để tâm hồn mình còn biết lo một người mình cho là đúng, muốn dặn lòng đừng nhớ thường ,đừng yếu miềm ,phải biết làm được ,sau trận thét gào mình biết đã tổn hại em rất nặng nề ,dù mặt dầu cố gắng mấy Châu không muốn nó phát triển đến mức không thể kiểm soát ? có phải em muốn thử thách Anh không dù có muốn nói bao lần mượn người dò hỏi ,khuyên ngăn trước làm những chuyện gì có thể được Anh muốn dành cho em niềm tự hào một nụ cười rạnh rở sau mà nó khó ghê  .Em My yêu dấu cũng vấp ngã " Không động thành lý sự như ma " khổ sầu em muốn hành hạ em thì Anh cũng muốn Chết theo để tự hỏi vì sau nó lại như thế
Ưh chính Anh là người chọc gậy bánh xe ,đôi mắt của em và Anh đã buồn vì sau nó cứ khứt trừ Chúng ta

Không phải mình Cố  nắm giữ lấy em và ép buột yêu cầu  bắt cứ với hình thức gì ? Chỉ mong em có trách nhiệm với chính mình đồng thời với mọi người nửa ,lần đầu Châu bị chinh phục vì nét duyên khéo nói  giọng Bắc vào Nam làm việc chuẩn ngọt ngào mái tóc bồng vàng nhuộm che đi khuyết điểm của em cùng đôi bông tai vòng tròn và một cái bóp đỏ ở cổ nó làm Anh to mò do dự

Thực tế là Châu rất cần em vì không muốn tiên xa hơn nửa,nhưng các giông tố như là một cái bẩy đầy rẩy sự hận thù làm tim Anh  không thể thêm chịu đựng hơn nửa ,muốn tìm người nào đó để cầu cứu sự giúp đở . Châu thích nghe em nói muốn gần em thỏa sự ngắm nhìn từng bước quan sát em Trưởng thành như thế nào người con gái ngốc dở bước yêu thằng khờ này chi để mệt thân ,mình chưa vượt qua sự nhẫn nại đừng để xao lòng ,tâm trí bấn loạn mơ hồ rồi để My khổ thân ta không biết phải về đâu



"
Quê hương tôi có con sông xanh biết 
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là những buổi trưa hè
Toả nẵng xuống giòng sông lấp loáng  "



  

Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012

Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Vạn Xuân: Môi truờng học là thực hành


Dù tuổi đời còn non trẻ nhưng Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Vạn Xuân đã đạt được những thành tich ấn tượng trong tuyển sinh và đào tạo. Để bạn đọc có thêm thông tin bổ ích, chúng tôi xin giới thiệu buổi trò chuyện cởi mở với Phó Giáo sư – Tiến sỹ Trần Văn Hạo, Hiệu trưởng nhà trường

                                                 Phó Giáo sư – Tiến sỹ Trần Văn Hạo - Hiệu trưởng nhà trường



PV: Thưa Thầy, Thầy có thể tóm tắt sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Vạn Xuân?
PGS-TS Trần Văn Hạo: Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Vạn Xuân được thành lập từ 1/9/2006, xin mở các ngành kinh tế, nuôi trồng thủy sản, công nghệ thông tin, điện tử …. Trường tọa lạc tại số 15K Phan Văn Trị, Phường 7, Quận Gò Vấp, TP.HCM, trên diện tích 1.000m2, ngôi trường khang trang với tòa nhà hình chữ U cao 5 tầng. Những ngày đầu thành lập, Trường nằm ở Quận 8, giao thông không thuận tiện nên chúng tôi phải dời về thuê tại Trường Hàng không nằm trên đường Nguyễn Trọng Tuyển trong khi chờ xây dựng cơ sở mới.
Nay ngôi trường tọa lạc Quận Gò Vấp, có sự giúp đỡ rất nhiệt tình của Học viện Quân sự và Bộ Quốc phòng. Từ ngày thành lập, với tất cả số cán bộ giảng viên của nhà trường vào thời điểm 2006 chỉ vọn vẹn có 15 người; Cơ sở vật chất thuê mướn tuyển sinh rất khó vì tất cả học sinh chưa biết nhiều về ngôi trường.
PV: Đạt con số 2.500 sinh viên và 3.000 học viên sau 6 năm thành lập, chắc hẳn tập thể nhà trường phải nỗ lực không ngừng?
PGS.TS Trần Văn Hạo: Quá trình 6 năm thành lập và phát triển của một trường cao đẳng là không dài, nhưng đối với Trường Vạn Xuân là một sự cố gắng hết sức của một tập thể, thống nhất đào tạo tập trung vào thực tế, không chú trọng nhiều về phần lý thuyết, trong giờ thực hành luôn luôn xem xét kỹ năng của từng sinh viên. Hiện tại trường có 60 giáo viên cơ hữu, số sinh viên cao đẳng khoảng 2500 sinh viên, và bốn cơ sở liên kết đào tạo trung cấp, khoảng 3000 học viên. Trường không phát triển các ngành đào tạo khác, chỉ chuyên tâm đào tạo bốn ngành như đã đăng ký khi thành lập. Với học phí vừa túi tiền nên những học sinh, sinh viên của trường là con em ở các tỉnh nghèo như Bình Thuận, Ninh Thuận, Đắc Lắc, Gia Lai, Kom Tum, Hà Tĩnh… Những sinh viên của Trường nếu có nhu cầu đi làm thêm sẽ được Đoàn Thanh niên nhà trường, vốn có quan hệ tốt với các doanh nghiệp trên địa bàn, giới thiệu đi làm. Sinh viên của trường rất ngoan và chăm chỉ.

Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Vạn Xuân
PV: Xin Thầy cho biết hướng phát triển Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Vạn Xuân và những điều nổi bật của Trường?
PGS.TS Trần Văn Hạo: Nội dung các môn học thiết thực, không đặt các yêu cầu quá cao và xa so với thực tế. Khẩu hiệu là sinh viên: “Cần cái gì khi ra trường thì học cái đó”. Chẳng hạn, môn Anh văn phải giúp sinh viên giao tiếp được những câu thông thường, về phần tin học phải sử dụng được máy tính trong công việc chuyên môn. Nhà trường cam kết đào tạo sinh viên thành những chuyên viên thạo nghề. Muốn vậy, khâu thực hành là rất quan trọng. Tuy nhiên việc thực tập tại các công ty, xí nghiệp đối với sinh viên đại học và cao đẳng gặp nhiều khó khăn.
Để chủ động, trường chúng tôi tổ chức thành lập các công ty và viện nghiên cứu sản xuất trong các khoa để sinh viên thực tập tay nghề. Trường đã và đang thành lập viện nghiên cứu sinh viên, viện nghiên cứu công nghệ phần mềm và các công ty kế toán, kiểm toán. Nhà trường luôn tạo mọi điều kiện cho sinh viên tốt nghiệp đã có việc làm đi học liên thông đại học tại các trường đại học có uy tín. Ngày 11/11/2012, Trường sẽ khai giảng lớp công nghệ thông tin do Học viện kỹ thuật quân sự tổ chức cho sinh viên của Trường.
Trong thời gian học tập tại Trường, những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn luôn nhận được sự giúp đỡ của nhà trường và Đoàn Thanh niên, liên hệ tạo công ăn việc làm kiếm thêm thu nhập để an tâm học hành.
Ban giám hiệu nhà trường có ưu đãi cụ thể để sinh viên các tỉnh tới học tại trường: Học phí thấp, có tiêu chuẩn 100% ký túc xá cho sinh viên. Chiến lược đào tạo gắn liền với thực tế, luôn theo sát sinh viên về vấn đề đạo đức. Được đào tạo một cách rất căn bản nên khi sinh viên ra trường đi thử việc, xin việc luôn được cơ quan, xí nghiệp, doanh nghiệp nhiệt tình tiếp nhận. Đó là sự kết hợp rất nhịp nhàng giữa nhà trường - sinh viên, và giữa sinh viên với các cơ quan, xí nghiệp, doanh nghiệp.