Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

Tập Sự Yêu

                               Hình Ảnh Về Em
Tình yêu đó anh chỉ trao cho riêng người thôi
Dù đời thay đổi nhưng trái tim anh nguyện chung tình
Người có biết khi xa em trong lòng nhớ thương đêm từng đêm
Cầu mong sao cho chúng ta không dời xa nữa
Dù ngàn năm sau khi trái đất kia có đổi thay
Thì lòng anh vẫn sẽ chẳng đổi thay yêu người muôn đời
Mùa đông giá rét sẽ ấm nồng có em kề bên.

Tình anh và em mãi không phai mờ qua ngàn sóng gió.

Người ta nói đúng, chia tay không đáng sợ bởi ngay từ khi bắt đầu biết đến tình yêu người ta cũng biết đến mặt trái của yêu thương là xa cách. Yêu giống như một chặng hành trình mà ai cũng muốn trải qua nhưng đi tới cái đích như thế nào thì không ai biết được. Nếu may mắn, có người sẽ tìm được quả ngọt ở cuộc tình mà mình vun vén. Nhưng có người buộc phải quay về, bắt đầu một hành trình khác, có vẻ mệt mỏi hơn.

Em thẫn thờ trở về nhà, lên căn phòng nhỏ của mình, em nhìn xuống thành phố lạnh tê tái kia mà không thể khóc. Nước mắt giống như khô cạn. Em tự trách bản thân mình đã quá tin anh. Tin từ khi còn yêu và tin tới cả khi anh nói lời chia tay. Là em ảo tưởng quá nhiều về cuộc tình này khi mà anh đã không còn yêu em nữa.

 Buổi gặp hôm đó là buổi gặp cuối cùng. Nụ hôn cuối anh trao đến em. Vị hôn mang mùi hương cay đắng và đau đớn biết nhường nào.Từ trong giây phút, em suy nghĩ về anh, về nơi chốn mà anh trở về để dựa vào sau một ngày làm việc mệt mỏi. Là một người nào đó ở bên cạnh anh mà không phải em. Anh mãi mãi là tình yêu của đời em. Dẫu cho mai này, em có vướng vào mảnh tình ái nào khác đi chăng nữa, em vẫn sẽ luôn nhớ về anh – người đã dạy em biết cách yêu một người. Em sẽ nhớ một tình yêu đã khắc sâu vào tận tâm can. Anh vẫn giữ một vị trí đặc biệt trong tim em. Dẫu đây chỉ là bản tình ca buồn nhưng nó vẫn ngân vang mãi trong thâm tâm em. Có thế ngày mai, sẽ có một bài tình ca khác với kết thúc có hậu hơn thì cũng không bằng bản tình ca mà anh mang đến cho em. Buồn nhưng thật đẹp.

                      Y êu thương thế nào là đủ để em ở bên cạnh anh mà không chán?

                 Yêu thương thế nào để em không cảm thấy bị gò bó?

"Nếu như giữa chúng ta cách nhau một trăm bước chân, chỉ cần em bước về phía anh một bước, anh tình nguyện bước chín mươi chín bước còn lại. Con người ta không ngại cố gắng nhưng cần nhất vẫn là đối phương đáp lại". 


Anh đã giết em, anh chôn em vào trái tim anh 
Từ đây anh không được yêu em ở trong sự thật 
Một cái gì đã qua, một cái gì đã mất 
Ta nhìn nhau, bốn mắt biết làm sao ? 
Ôi! Em mến yêu! Em vẫn là người anh yêu mến nhất 
Cho đến bây giờ ruột anh vẫn thắt 
Tim anh vẫn đập như vấp thời gian 
Nhớ bao nhiêu yêu mến nồng nàn, 
Nhớ đoạn đời hai ta rạng rỡ 
Nhớ trời đất cho anh mở 
Nhớ 
Muôn thuở thần tiên. 
Ôi! Xa em, anh rơi vào vực không cùng 
Đời anh không em, lạnh lùng tê buốt 
Nhưng còn anh, còn em, mà đôi ta đã khác 
Ta: hai người xa lạ - phải đâu ta! 
Anh đã giết em, anh chôn em vào trái tim anh 
Đêm nào anh cũng đi quanh em mà khóc 
Anh vẫn ước được em tha thứ 
Anh vẫn yêu em như thuở ban đầu 
Thế mà tại sao ta vẫn xa nhau ? 
Tại em cố chấp 
Tại anh đã mất 
Con đường đi tới trái tim em 
Anh đã giết em rồi, anh vẫn ngày đêm yêu mến. 
Em đã giết anh rồi, em vứt xác anh đâu.


Đúng là thực sự có những cảm giác không thể nói lên lời.Chỉ biết tim đau nhói và nước mắt tự nhiên trào dâng,có xoa dịu mình thế nào cũng không thể nhạt nhòa.Cảm giác ấy chẳng thể nào tìm được ai sớt chia.Ôm nỗi lòng ấy cho riêng ta mà gặm nhấm.Chỉ ta mới biết ta đã ngốc ngếch như thế nào.Thôi thì khóc rồi sẽ ngưng,có lẽ vậy sẽ tốt hơn.Khóc một chút,có yếu đuối chút nào đi không

Hãy học từ sai lầm của người khác. Bạn sẽ không bao giờ sống đủ lâu để phạm phải tất cả sai lầm.

Tôi cứ đi tìm nguyên nhân mãi, rồi đẩy mình vào một mớ rối ren, vào hàng ngàn hàng vạn câu hỏi 

Tại sao   (Cá nhân có quyền được )  Tôi luôn muốn mình tốt hơn nhưng không biết có thể tiến tới đâu”.







0905192920

Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2013

Chi Đoàn


ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH - TP. HỒ CHÍ MINH
BCH TRƯỜNG CAO ĐẲNG KT-CN VẠN XUÂN
       ***
Số: 10/KH-ĐTN
TP. Hồ Chí Minh, ngày 10  tháng 10 năm 2012
KẾ HOẠCH
CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ CHÀO MỪNG NGÀY 20 THÁNG 11
1.MỤC ĐÍCH-YÊU CẦU
1.1 Mục đích:
Hòa chung với không khí tưng bừng hướng về Chào mừng Kỷ niệm 30 năm Ngày nhà
giáo Việt Nam 20/11 (20/11/1982  – 20/11/2012), cùng với không khí náo nức  chào
mừng tân sinh viên khóa VII,  chào mừng  ngày học sinh-sinh viên 9/1.BCH Đoàn
trường CĐ KTCN Vạn Xuân tổ chức chương trình văn nghệ nhằm:
- Tri ân thầy cô giáo
- Chào mừng sinh viên khóa VII
-   Tăng tình đoàn kết và là cầu nối của sinh viên trường.
-   Tạo được một sân chơi  lành manh,ý nghĩa cho sinh viên.
1.2 Yêu cầu:
- Đảm bảo kế hoạch được triển khai sâu rộng trong sinh viên.
- Thu hút được sư tham gia đông đảo của sinh viên.
- Nội dung thiết thực,phong phú,sáng tạo.
- Tạo dấu ấn cho sinh viên trường nói chung và tân sinh viên khóa VII nói riêng.
2.THỜI GIAN-ĐỊA ĐIỂM
2.1 Thời gian:16h30h ngày 17/11/2012
2.2 Địa điểm: sân trường CĐ KTCN Vạn Xuân.
3 NỘI DUNG THỰC HIỆN:
3.1 Yêu cầu chung với sinh viên tham gia:
- Tất cả sinh viên trường đều có thể đăng ký tham gia theo từng chi đoàn.
3.2 Các nội dung của chương trình
- Văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam theo chủ đề: “Ký ức”
- Phần thi tài năng tự chọn.3.3 Hình thức đăng ký tham gia
* Đối với chương trình văn nghệ:
-  Tất cả các chi đoàn đều phải có tiết mục văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt

Nam: nội dung hướng về thầy cô, bạn bè, trường lớp.
* Đối với phần thi tài năng sinh viên:
- Không hạn chế số tiết mục tham gia, các phần thi phải lành mạnh phù hợp với nền văn
hóa, có thể chọn các thể loại như: kịch, thời trang, năng khiếu….
- Các lớp gởi danh sách đăng ký tiết mục tham gia về Ban Chấp Hành Đoàn trường
trước ngày 25/10/2012
3.4 Cơ cấu giải thưởng:
- 1 giải nhất                     :  500.000đ + lưu niệm chương
- 2 giải nhì                       :  400.000đ + lưu niệm chương
- 3 giải ba                        :  300.000đ + lưu niệm chương
- Giải đồng đội               :  100.000đ    (giành cho tiết mục có nhiều sinh viên trong
chi đoàn tham gia nhất)
- Tổng trị giá giải thưởng: 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm ngàn đồng chẵn)
4 BAN TỔ CHỨC:
Võ Thị Trà My...............................................Trưởng ban

Phạm Chí Hiếu...............................................Phó ban
Lê Văn Quý....................................................Phó ban
Hồ Lê Anh Hoàng..........................................Phó ban
Phạm Văn Phúc..............................................Phó ban
Nguyễn Thị Lộc .............................................Phó ban
Bùi Thanh Duy...............................................Thành viên
Nguyễn Thị Hạnh...........................................Thành viên
Phan Thị Mỹ Hạnh.........................................Thành viên
Lý Trọng Nhân...............................................Thành viên
Võ Văn Phát...................................................Thành  viên
Vũ Hồng Ân...................................................Thành viên
Tô Thị Thùy Linh...........................................Thành viên
Trần Minh Thắng ...........................................Thành viên

5. TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN
STT THỜI GIAN NỘI DUNG PHỤ TRÁCH
1
Từ 01/10/2012-
15/10/2012
Hoàn thành kế hoạch
Xin ý kiến Ban giám hiệu Đ/c Võ Thị Trà My
2
Từ 15/10/2012
25/10/2011
Đăng kí danh sách thí sinh dự thi
Thành lập ban giám khảo cuộc thi Ban tổ chức
3 13h ngày 10/11
(Dự kiến)
Duyệt chương trình Ban tổ chức
4 16h ngày14/11
(Dự kiến)
Chạy chương trình Ban tổ chức
5 17/11/2010 Chương trình chính thức Ban tổ chức
Trên đây là Kế hoạch triển khai các hoạt động văn nghệ chào mừng Ngày Nhà giáo
Việt Nam 20/11.
Vậy, BCH Đoàn trường yêu cầu các chi đoàn và đoàn viên thực hiện kế hoạch
nghiêm túc.
Nếu có gì thay đổi, BCH Đoàn trường sẽ thông báo sau.
Lưu ý: Các chi đoàn gởi danh sách đăng ký về Ban Chấp hành Đoàn trường theo
tiến độ thời gian ghi trong bảng kế hoạch, sau khi hết thời hạn đăng ký BCH Đoàn
trường không giải quyết bất kỳ trường hợp chậm trễ nào.

      DUYỆT CỦA BAN GIÁM HIỆU                       TM.BTV ĐOÀN TRƯỜNG



Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2012

NGỘ ĐẠO LÀ GÌ?

"Ngộ đạo" (Gnose) là từ ngữ được dùng để chỉ một hiện tượng tổng quát mà người ta có thể khám phá thấy những biểu hiện qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử, khởi từ thế kỷ I, sau Công Nguyên, cho tới thời hiện đại, và "ngộ đạo thuyết" (gnosticisme) chỉ hiện tượng đặc biệt của thế kỷ II.

Xét là hiện tượng tổng quát, Ngộ đạo (từ Hy Lạp thông dụng có nghĩa là tri thức") là ảo tưởng 
về một tri thức hoàn hảo, được mạc khải, được chiếm hữu và truyền đạt bởi những người được khai tâm, với tham vọng đưa ra một giải thích toàn triệt về thế giới, về huyền nhiệm của hiện hữu, dựa trên cơ sở nhị nguyện (đối lập giữa thế giới sự thiện và thế giới sự dữ), và qua đó mở ra con đường cứu độ cho tinh thần. Ngộ đạo không chỉ là một phong trào cứu độ bằng tri thức; dưới góc độ lịch sử các tôn giáo, bản chất của ngộ đạo là một quan niệm nhị nguyện bài-vũ trụ (dualime anticosmique): Tri thức và cứu độ tự bản chất là xa lạ với thế giới xấu xa này. Cũng cần lưu ý đặc tính bí mật của nó, đặc tính này biến Ngộ đạo thành một tôn giáo của những người đã được khai tâm, và nội dung thường là thần thoại.

Hiện tượng này, một hiện tượng vừa đáng ngại vừa lôi cuốn, có thể nói đã bùng nổ vào thế kỷ II. Nhưng từ lâu nay, người ta chỉ biết về Ngộ đạo thuyết xuyên qua các tác phẩm Giáo Phụ, trong đó có tác phẩm của Irénée. Ngày nay với khám phá mới, công cuộc nghiên cứu đã có những tiến bộ lớn lao, đặc biệt là việc khám phá ra thư viện của một giáo phái Ngộ đạo ở Nag-Hammadi (Ai Cập, 1947): Khoảng 50 tác phẩm khác nhau, có cả một số tác phẩm được soạn thảo tận thế kỷ II, và đang được công bố.

Các khuynh hướng Ngộ đạo đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ I trong một khung cảnh địa lý chạy dài từ Palestine đến Tiểu Á. Những khuynh hướng này có lẽ đã có mặt trong bối cảnh của một vài tác phẩm Tân Ước. Thế rồi giáo phái hình thành và lan tràn khắp nơi. Vào thế kỷ II, nó lan tới Alexandria biến nơi này thành trung tâm của Ngộ đạo thuyết, đặc biệt là của một thứ Ngộ đạo thuyết "Kitô Giáo", cho mình là kẻ được ký thác truyền thống chính thực, và bậc thầy có ảnh hưởng nhất của chủ thuyết này là Valantin. Oâng này truyền bá giáo thuyết của mình sang tận Tây Phương. Đối tượng chính mà Irénée chống lại đó là Ngộ đạo của Valantin. Ngộ đạo chìm dần ở thế kỷ III, để rồi hầu như ngay lập tức, phái Maniché trỗi dậy thay thế, đây là chủ thuyết mà các Giáo phụ sẽ phải chống lại bắt đầu từ thế kỷ IV. Thánh Augustinô một thời là môn đồ của phái này trước khi trở thành đối thủ đáng sợ của nó.

Và một thời kỳ đầy biến chuyển về tôn giáo và văn hóa như là thời kỳ đầu Công Nguyên, nguyên nhân các giáo phái tuyên truyền thành công hẳn có thể hiều là vì các chủ đề mà Ngộ giáo khai triển đánh động con người một cách sâu xa. Chủ đề căn bản của Ngộ đạo là nỗi khắc khoải về sự dữ của cuộc hiện hữu trong thế giới này. Ngộ đạo xuất hiện như một biểu hiện của ý thức bất hạnh. Ý thức này làm nảy sinh nơi người Ngộ đạo cảm thức về một sự vong thân, một cuộc lưu đày, một sự tước bỏ so với một thiên đàng đã mất, so với sự hoàn hảo đã bị lãng quên. Ở trần gian này, con người cảm thấy lạc loài, bị xâu xé giữa thiện và ác, vật chất và tinh thần, linh hồn và thể xác, bị phá vỡ thành hai phái tính riêng biệt, tản mát trong thời gian. Con người mang nỗi hoài vọng da diết về sự duy nhất thuở đầu, một sự duy nhất mà chỉ có một thảm họa vũ trụ mới có thể phá tan để rồi sinh ra cái thế giới đổ vỡ này. Cứu độ hệ tại ở chỗ thoát khỏi vật chất và mọi thứ nhị nguyên mà nó đẻ ra, cứu độ là trốn thoát và trở về với thế giới hoàn hảo và thống nhất của tinh thần.

Con đường cứu độ nàm trong "tri thức", tri thức này vừa là nhận thức bẩm sinh về thân phận của tinh thần ở trần gian này, đồng thời là sự đắc thủ tri thức hoàn hảo, làm tăng triển nhận thức trên. Nhờ tri thức, con người ý thức về bản tính đích thực của mình là một hữu thể tinh thần. Ngộ đạo là việc tinh thần trở về với chính mình. Là tự biết mình, đúng như câu ngạn ngữ: "Anh hãy tự biết mình". Người khai tâm (initié) là người thủ đắc trí thức giải thoát này và như thế là đã được cứu độ. Nơi những kẻ khác, tinh thần còn đang ngủ yên, nhưng lời chỉ dạy có thể đánh thức nó. Cuối cùng những người khác, những "ngươi vật chất" chỉ được cấu tạo bằng những yếu tố xác thịt, tất sẽ bị hủy diệt vô phương cứu chữa. Như thế, các Kitô hữu theo Ngộ đạo tự xem mình như Giáo Hội của những người hoàn hảo, nòng cốt của những người được tuyển chọn, khai mào cho tất cả các trào lưu "Cathares" (tinh tuyền, thanh sạch) trong lịch sử Kitô giáo.

Về bản chất tai họa vũ trụ, nguyên lai của thế giới đổ vỡ này, các giáo phái mạnh ai nấy thêu dệt trên một phác thảo hoàn toàn mang tính chất thần thoại. Chính từ giai trật các hữu thể cấu tạo nên thượng giới, đã xảy ra biến chuyển làm phát sinh một Đấng tạo hóa dị hình, tác giả của thế giới này. Cũng chính từ thượng giới, một Quyền Năng đã xuống giải thoát những mảnh tinh thần bằng cách đem tri thức đến. Ở đây, cũng như chủ thuyết Maniché, Ngộ đạo thuyết hòa trộn đủ thứ thần thoại vay mượn ở các tôn giáo rất khác nhau, Người ta có những lý do để nghĩ rằng các Kitô hữu Ngộ đạo không nhất thiết lấy lại thần thoại này, nhưng không vì thế mà họ tránh được việc hủy hoại tận căn hữu thể và vai trò của Đức Kitô Cứu Thế.

PHÚC ÂM THEO THOMAS

(Khoảng năm 140)

Trình bày những chủ đề Ngộ đạo hay gần với Ngộ đạo: quan niệm nhị nguyên về con người, từ khước tính dục (trở về tình trạng ấu thơ), hoài vọng về sự duy nhất đã mất.

"Đức Giêsu nhìn thấy những đứa trẻ còn bú. Ngài nói với các môn đệ: Những trẻ bú này giống như những người bước vào Nước Trời.

Họ nói với Ngài: Vậy khi trở thành trẻ nhỏ, chúng con vào Nước Trời ư?

Đức Giêsu nói với họ: Khi các ngươi coi hai là một, và khi các ngươi coi nội giới như ngoại giới và ngoại giới như nội giới, và điều trên cao như diều dưới thấp, và khi các ngươi coi, đàn ông với đàn bà, chỉ là một thứ đến mức đàn ông chẳng phải đàn ông, đàn bà chẳng phải đàn bà, khi các ngươi làm hai mắt thay cho một mắt, một tay thay cho một tay, và một chân thay cho một chân, một hình ảnh thay cho một hình ảnh, bấy giờ các ngươi sẽ vào Nước Trời".

(P.V.F.LEvangile selon Thomas, 1959, p. 17-19)

THÁNH THI NGỘ ĐẠO DO HIPPOLYTE THÀNH ROMA LƯU GIỮ

Sự dữ của thế giới và hành động của Đức Kitô Cứu Thế
"Luật đầu tiên làm phát sinh vũ trụ là trí tuệ
Nguyên lý thứ hai, sau thọ sinh thứ nhất, là hỗn mang hỗn độn: hàng thứ ba, theo định chế của luật, rơi về phần linh hồn.
Vì lẽ đó, mang hình thái nước, linh hồn phiền sầu, là đồ chơi, nô lệ sự chết.
Có lúc được ban vương quyền, linh hồn vui hưởng ánh quang.
Khi bị đẩy vào bất hạnh, linh hồn đớn đau than khóc.
Rốt cuộc, có những lúc cùng đường nghẽn lối
Kiếp lang thang bất hạnh dẫn tới mê lộ khôn cùng
Bấy giờ Đức Giêsu nói: Lạy Cha, xin hãy nhìn!
Linh hồn gặp bất hạnh đang phiêu bạt trên thế gian, xa khỏi khí thiêng của Người.
Nó tìm cách trốn khỏi hỗn mang kinh tởm, nhưng biết đâu là lối ngõ băng qua.
Vì vậy, Lạy Cha, xin hãy sai con đến! Con sẽ xuống thế mang theo ấn tín
Con sẽ băng qua các hữu thể thần linh (éons): và mọi mầu nhiệm con sẽ mạc khải và dưới danh xưng Ngộ đạo, con sẽ truyền đạt những bí mật của thánh đạo."
(Philosophoumena, V.10 A. Siouville, Paris 1928, p. 162-163)

TÌM THẤY THƯ VIỆN CỦA MỘT PHÁI NGỘ ĐẠO

Vào năm 1945 hoặc 1946, các nông dân tình cờ khám phá thấy một chiếc chum đầy những cảo bản trong một ngôi mộ cổ, vùng Nag-Hammadi thượng Ai Cập. Ban đầu, chiếc chum bị bọn lái buôn dấu ở Ai Cập. Sau đó thu hồi lại được và giao cho các nhà chuyên môn. Trong chum có 13 quyển bằng chỉ thảo (papyrus) có bìa da bọc ngoài, chứa tất cả 49 văn phẩm khác nhau, viết bằng tiếng Copte. Các quyển này có từ thế kỷ II và IV. Qua nội dung các tác phẩm, người ta có thể biết chắc nguồn gốc của chúng: đây là thư viện của một phái Ngộ đạo, được đưa ra ánh sáng, sau 15 thế kỷ bị chôn vùi, nhờ khám phá đó.

Tập bản văn này cung cấp một tư liệu hầu như hoàn toàn mới mẻ về một nền văn chương hình thành từ thế kỷ II. Trong số các tác phẩm được tìm thấy, một số đã được Irénée và Hippolyte biết đến.

Chỉ nguyên tựa đề các tác phẩm cũng cho thấy tính chất lạ lùng và hết sức bí hiểm của nền văn chương này: Chúng ta thấy những tựa đề như: "Sách Thánh của Thần Khi vĩ đại vô hình", "Tư tưởng của Quyền lực vĩ đại", "Mạc khải của Adam cho con trai là Seth", "Khôn ngoan của Đức Giêsu" (đây thuần túy là sự phỏng tác có màu sắc Kitô giáo rập theo một khuôn mẫu ngoại giáo), "Tin mừng về chân lý" (Theo Irénée, Valentin có viết một tác phẩm mang tựa đề này), "Tin mừng theo Thomas", "Sách bí nhiệm của Gioan", "Khải huyền của Phêrô".v.v.

Các tác phẩm này cho thấy Ngộ dạo hầu chắc phát xuất từ bên ngoài Kitô giáo: với sự pha trộn đến lạ lùng các tôn giáo khác, ngộ đạo rõ ràng xuất hiện như một hình thái tôn giáo có khả năng hòa nhập vào những khung tôn giáo hết sức khác biệt. Ngoài ra, các văn phẩm đó mang lại một tư liệu chưa từng có về ngộ đạo "theo Kitô giáo", là thứ Ngộ đạo mà Irénée đã lên tiếng chống lại phái Ngộ đạo này, khi sát nhập Kitô giáo, đã tự cho mình mới là người biểu lộ Kitô giáo trong sự thuần khiết của nó. Vả lại, người ta nhận thấy nơi các phái Ngộ đạo, dù là theo Kitô giáo hay không, có những luận thuyết hết sức khác biệt nhau. Tuy nhiên, cái nhìn của chúng vẫn luôn luôn là sự đối lập giữa hai thế giới. Và do đó, trong các phái đạo theo Kitô giáo, họ không nhìn nhận vị Chúa thần linh nơi Đức Yêsu nhân trần, nơi Đấng chịu đóng đinh, cũng như không nhìn nhận Giáo Hội đích thực nơi cộng đoàn hữu hình, cơ chế của Giáo Hội Công Giáo.

Các luận đề lớn của ngộ đạo sẽ xuất hiện nơi học thuyết Manichée khởi từ thế kỷ III, và sẽ tiếp tục xuất hiện dọc theo các thời đại, chẳng hạn nơi phong trào Cathres hoặc Albigeois trong thời Trung cổ.

Là mục tử, Irénée hết sức nhạy cảm với sự tuyên truyền tích cực và khéo léo của các giáo phái trong các môi trường Kitô giáo, và là nhà thần học, Ngài cũng hết sức nhạy cảm với việc chính nền tảng đức tin bị đặt thành vấn đề bởi Ngộ đạo: nó dẫn tới tất cả những chia cắt hủy hoại - chia cắt giữa Thiên Chúa Tối cao và Đấng Sáng tạo, giữa công trình tạo dựng và công trình cứu độ, giữa con người và vũ trụ, giữa thân xác và linh hồn, giữa Cựu Ước, công trình của Đấng Sáng Tạo, và Tân Ước, mạc khải duy nhất của Chúa Cha. Nó đụng tới cả bản chất cứu độ: vong thân đích thực của con người là ở chỗ nào? Phải chăng chỉ duy có tri thức mới cứu thoát? Đâu là ý nghĩa của đời sống luân lý, của đời sống bí tích?. Hữu thể nhân linh phải chăng chỉ là bãi chiến trường của cuộc chiến siêu việt giữa Thiện và Aùc, và phải chăng Đức Kitô, Đấng Cứu độ, từ trời cao nhảy dù xuống trần gian này mà chẳng liên lụy gì với trần thế, và vai trò chính của Ngài chỉ là Đấng mạc khải của Ngộ đạo?. Nhập thể và mầu nhiệm Vượt qua mất hết ý nghĩa. Ngay cả nguồn mạch của đức tin cũng ra hư hoại vì nó không còn ở trong truyền thống Giáo Hội giải thích Thánh Kinh nữa, mà là trong truyền thống và các kinh thư bí mật của phái Ngộ đạo.

Bấy nhiêu vấn đề thường xuyên nằm trong chân trời tư tưởng của Irénée và đã đưa Ngài đến chỗ hình thành một nhãn quan ăn rễ sâu trong các thư Phaolô nhưng đồng thời có những nét độc đáo và đặc sắc riêng của nó.

MỘT HỆ THỐNG NGỘ ĐẠO

Giáo thuyết của Basilide (Ngộ đạo ở Alexandrie), do Irénée mô tả (Chống Ngộ đạo I, 24, 3-5).

"Theo ông ta, từ Chúa Cha không được sinh ra, trước tiên Trí Tuệ được sinh ra, rồi từ Trí Tuệ sinh ra Logos, từ Logos sinh ra Minh Triết, rồi từ Minh Triết sinh ra Khôn Ngoan và Sức mạnh, từ Sức mạnh và Khôn Ngoan sinh ra Đức hạnh, các Hữu Thể Thượng Đẳng (Archontes) và các Thiên Thần mà ông gọi là các Thiên Thần đệ nhất và do các vị này mà trời thứ nhất được dựng nên. Rồi, do lưu xuất từ cac thiên thần đó, những thiên thần khác ra đời, và đã dựng nên trời thứ hai tương tự như trời thứ nhất. Cũng thể cách như thế, những thiên thần khác nữa. đã làm ra trời thứ ba. Rồi từ hạng thiên thần đệ tam này, một hạng thứ tư phát xuất, cấp thấp hơn và cứ thế tiếp tục. Theo cách đó, các hạng Hữu thể thượng đẳng và các thiên thần nối tiếp nhau xuất hiện và cho đến 365 tầng trời. Chính vì lẽ này mà có cùng con số ngày trong năm, hợp với số các tầng trời.

Các thiên thần ở tầng trời bên dưới, tầng trời mà chúng ta nhìn thấy, đã tạo nên tất cả những gì trần gian chứa đựng và chia sẻ với nhau mặt đất và các quốc gia trên đất. Vị Tổng lãnh Thiên Thần này được coi như là Thiên Chúa của người Do Thái. Vị này, vì muốn đặt mọi dân tộc khác dưới tay người của mình, nghĩa là người Do Thái, đã bị các Hữu thể thượng đẳng khác đứng lên đánh lại. Cũng vì lẽ đó mà các dân tộc khác đứng lên chống lại dân tộc Do Thái. Bất giờ Chúa Cha, Đấng không được sinh ra, không thể gọi tên, nhìn thấy sự gian ác của Hữu thể thượng đẳng, đã sai phái Trí Tuệ, Trưởng tử của Người - chính là Đấng mà người ta gọi là Kitô - để giải thoát những ai tin vào Ngài khỏi ách thống trị của nhữngTác giả tạo nên thế gian này. Ngài xuất hiện nơi các dân tộc của các Hữu thể Thượng đẳng, trên trần gian, dưới hình dạng một con người và Ngài thực hiện những việc lạ lùng. Bởi thế, chính Ngài không chịu khổ nạn, nhưng một Simon de Cyréné nào đó đã bị trưng dụng và đã vác thập giá thay cho Ngài. Và chính Simon, vì không biết và lầm lạc, đã bị đóng đinh.

Vậy kẻ nào "biết" điều đó thì được giải thoát khỏi các Hữu thể Thượng đẳng, tác giả của thế giới này. Và người ta không cần tuyên xưng những kẻ đã bị đóng đinh, nhưng là Đấng đã đến dưới hình dạng con người, ra vẻ bị đóng đinh, được gọi là Giêsu, và đã được Chúa Cha sai đến để triệt hạ những công trình của các Tác giả tạo thành thế giới, nhờ "nhiệm cục" đó. Basilide nói: Nếu ai tuyên xưng Đấng-bị-đóng-đinh, kẻ đó còn đang là nô lệ và ở dưới sự thống trị của những kẻ đã tạo nên các thân xác; nhưng người nào chối bỏ Đấng ấy, người đó được giải thoát khỏi quyền lực của họ và nhận biết "nhiệm cục" của Chúa Cha, Đấng-không-được-sinh-ra.
Cứu độ chỉ dành cho linh hồn, vì thân xác tự bản tính là hư hoại. Biểu hiện thông qua câu Chuyện bó đủa bạn có thể hiểu thêm nhiều cách khác giống nhau mỗi đạo đều có trường phái và quan điểm chung là dẩn chúng ta ránh xa điềm xấu phòng tránh sự hiểu lầm ,đố kỵ nghi ngờ cực đon http://brhuynhquang.org/?p=43

Cô Gái Bắc Kỳ - Huỳnh Thi

BẢN CHẤT TIỂU NHÂN

Hiểm nguy, hổ cũng cụp đuôi,
Khốn cùng, bản chất con người bộc ra.
Xưa kia luồn cúi ba hoa,
Ra vào cửa hậu, nhờ Bà cậy Ông.
Quan cao, nhà rộng mênh mông,
Mánh mung, thâm lạm của công làm giàu.
Cấp trên, nịnh đội lên đầu,
Tùy tùng, khai thác như trâu kéo cầy.
Chậm chân chạy, phải vào đây,
Gian lao đói khổ khác ngày quyền uy.
Tâm đen bần tiện tức thì,
Lộ qua lời nói hành vi đê hèn.
Lưu manh sống cạnh người hiền,
Khác đâu lang sói ở bên đàn cừu.
Lúc sang, kênh kiệu mỹ miều,
Gặp khi hoạn nạn, xoay chiều hại nhau.
Canh ngon, hỏng tại bọ sâu,
Cây tươi, héo chết vì bầu mối xông.
Nhẹm đi ấm ức trong lòng,
Viết ra cho đỡ tức hông tuổi già.

Con Gái Bắc Kỳ - Diên Vỹ

Sự thảm họa cay đắng

Con người từ khi ra đời đã tồn tại cái tôi. Tự điển Thesaurus định nghĩa về cái tôi (hay ngã kiến - egoismism/the selfness) là sự tự nhận thức của một người về tư cách, nhân phẩm hoặc giá trị của chính mình, đặc biệt là để phân biệt mình với thế giới bên ngoài và các cá nhân khác.
Cái tôi trong mỗi người phát triển theo thời gian trong quá trình sống của con người... Khi còn nhỏ người ta ít bị các yếu tố xã hội tác động vào nhận thức về chính mình, nói cách khác, cái tôi được phát triển tương đối độc lập. Một em bé sẽ ít bị tổn thương hay bị chạm tự ái như người lớn khi bị phê bình hay khiển trách. Trẻ em thường quên rất mau và ít khi “để bụng” những chuyện buồn phiền. Trong khi đó người lớn có thể tức giận rất lâu và phản ứng rất nặng nề nếu bị chạm tự ái.
Quan niệm về cái tôi thường được hiểu theo hai khía cạnh: (1) Tích cực: sự hãnh diện phù hợp về những giá trị, nhân phẩm của chính bản thân; (2) Tiêu cực: sự nhận định sai về những giá trị, nhân phẩm của mình đưa đến sự tự ti hay tự tôn.
Ở đây không bàn đến trường hợp của một người hay nhún nhường hoặc thường khoe khoang vì lý do nào đó trong giao tiếp xã hội. Nếu một người không nhìn thấy được giá trị của chính mình sẽ cảm thấy bi quan và dễ bị tổn thương. “Mình thật chẳng làm nên trò trống gì là vô tích sự”, “Tôi thật là xấu xí, “Chẳng ai ưa tôi cả”… đó là một số những suy nghĩ thường có của một số những người luôn hoài nghi về giá trị thực sự của mình.
Khi bị chìm đắm trong sự tự ti, mặc cảm, người ta thường suy diễn, so sánh mọi thứ, mọi việc để cuối cùng tự cho mình là kẻ thua cuộc dẫn đến thái độ bi quan hoặc chán ghét mọi thứ xung quanh mình, đặc biệt là có ác cảm với những người mà họ cho là ba hoa, phô trương và kiêu ngạo... Không hài lòng với chính mình, ta cũng chẳng vui vẻ, cởi mở với ai. Tự ti có xu hướng sinh ra tự tôn. Khi bị đè nén, cái tôi bị bóp méo và khi chính chủ nhân thổi phồng nó lên (sau khi đã đè nén nó), thì cái tôi đó nó lại là sản phẩm của trạng thái tâm lý không tự chủ và giả tạo.
Tôi rất tâm đắc với một câu chuyện kể về Đức Đạt Lai Lạt Ma, người có một quan điểm đơn giản nhưng rất thiết thực về cách làm sao để tìm thấy sự tự tin cho mình. Khi được hỏi: làm sao Ngài có thể tự tin thuyết giảng trước đám đông hàng ngàn người, hoặc không e dè ngại ngần khi bắt chuyện với một người hoàn toàn xa lạ? Ngài trả lời: “Hãy thành thật với chính mình”.
Sự chân thành cộng với việc đánh giá đúng mức khả năng và những giá trị thực có của chính mình sẽ giúp chúng ta mạnh dạn hơn, cởi mở hơn với thế giới quanh ta cũng như sẵn sàng đón nhận để vượt qua các chướng ngại trong cuộc sống. Qua đó, nếu bạn cảm thấy thiếu hụt về một lĩnh vực nào đó, bạn không nên mất tự tin, bởi vì bạn biết rằng bạn còn có những giá trị khác. Cũng giống như một đứa bé gái khi bị trêu chọc là sún răng, nó liền hỏi lại: “Còn đôi mắt con thì sao?”. Nghĩ rằng mình có đôi mắt đẹp, cô bé đó muốn được nhìn nhận ưu điểm này của nó. Nó làm điều đó một cách tự nhiên, chân thành, không mặc cảm, không sợ bị đánh giá. Nếu “chịu khó” và chân thành (nghĩa là công bằng với chính mình) trong cuộc tìm kiếm, chắc chắn mỗi người sẽ tìm thấy những giá trị riêng của chính mình.
Thế thì một người phụ nữ nội trợ sẽ không thấy mất tự tin vì nghĩ rằng mình không tạo ra đuợc thu nhập và có vị trí xã hội như những người khác. Là một người vợ và một người mẹ tốt, giá trị của họ vô cùng to lớn đối với gia đình của họ và do đó họ tất nhiên là những người rất cần thiết trong xã hội. Một người không có diện mạo xinh đẹp vẫn có thể gây thiện cảm với mọi người xung quanh họ nếu người ấy thân thiện và vui tính.
Không những chỉ dừng lại ở việc tìm thấy và trân trọng những giá trị sẵn có của mình, con người còn có thể phát triển thêm những giá trị mới cho chính mình. Điều này cũng tương tự như việc các công ty trong quá trình phát triển giá trị thương hiệu đã không ngừng phát triển những dịch vụ cộng thêm (value adding service) cho khách hàng của mình. Ví dụ như các đại lý bán vé máy bay phát triển thêm dịch vụ giao vé tận nhà, hướng dẫn lộ trình bay, tư vấn cách chọn chuyến bay…
Mỗi người chúng ta cũng vậy, ai cũng có thể tạo thêm giá trị cho “thương hiệu” của chính mình bằng những việc làm đơn giản nhưng thiết thực, ví dụ như thể hiện sự quan tâm với những người xung quanh, sống vui vẻ, hòa nhã với mọi người, xây dựng những mối quan hệ tốt với người thân, bạn bè… Mọi nỗ lực dù nhỏ nhoi nhưng đều mang lại những kết quả đáng kể.
Khi tạo cho mình được nhiều giá trị, làm cho “cái tôi” của mình đẹp hơn, người ta sẽ cảm thấy tự tin, cởi mở và tìm thấy cũng như tạo ra được nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống. Thấy hiểu được giá trị thật về cái tôi của mình, người ta có thể “là chính mình” và sống thật với mình hơn. Họ sẽ không bị môi trường chung quanh chi phối cách nhìn về “cái tôi” của họ, không mặc cảm tự ti, không dễ bị tổn thương hay “chạm tự ái” với những câu nói, hành vi và thái độ dù vô tình hay cố ý của những người khác.
Tuy nhiên, ranh giới giữa việc nhận thức cái tôi tích cực và cái tôi tiêu cực là rất mong manh. Cái tôi một khi bị thổi phồng lại thường gây ra nhiều đổ vỡ, trở ngại… vì hình như cái tôi lại thường hay phát triển và được phóng đại cùng với cái tài. Cho nên căn bệnh “cái tôi quá to” cố hữu về sự kiêu ngạo và cố chấp trầm kha thường lại rơi vào những người có những thành công nhất định trong xã hội.
Một người leo lên nấc thang danh vọng, địa vị càng cao, thì cái tôi mà họ vác trên vai dường như càng nặng. Vì thế nếu khi một người bình thường đón nhận sự bất đồng về ý kiến của người khác một cách cởi mở, thì các “sếp” có thể xem đó là “không thể chấp nhận được”. Chính cái tôi quá lớn đã giam cầm một số người trong nhà tù của sự tự mãn và kiêu căng của chính mình. Mà đã là tù nhân thì làm sao có hạnh phúc?
Vậy làm sao cởi bỏ được cái gánh nặng cái tôi đó ra? Làm thế nào để kiểm soát được trạng thái tâm lý tự ti mặc cảm, hay ngược lại, tâm lý tự cao tự đại của mình? Làm sao để có thể vượt ra khỏi cái tôi tiêu cực, cái bản ngã nghiệp chướng của chính mình để có thể là một người tự do, được sống hồn nhiên yêu đời và hạnh phúc?
Khi chê ai đó có cái tôi quá lớn, người ta thường nói “cái tôi của hắn to bằng quả núi”, hoặc “anh ta tưởng anh ta là cái rốn của vũ trụ”, là “trung tâm của thế giới”… Như vậy, vô hình trung, chúng ta đã thừa nhận mình chỉ là những cá thể rất nhỏ trong một vũ trụ rộng lớn. So với vũ trụ và thế giới chung quanh, quả thật mỗi cá nhân chúng ta chỉ là những hạt nhân nhỏ bé. Những hạt nhân này khi di chuyển va đụng vào nhau, giao tiếp, hỗ tương với nhau, sau đó lại di chuyển tiếp trong quỹ đạo của riêng mình trong vũ trụ.
Đã không phải là vũ trụ mà chỉ là “cái rốn” của vũ trụ, thì tại sao lại dám xem mình là cả vũ trụ? Bên cạnh đó, mỗi cá nhân là một thực thể tồn tại, phát triển, sinh ra và mất đi, có sự hình thành và cấu tạo rất riêng biệt, với những giá trị nhất định riêng trong thế giới này. Mỗi hạt nhân tuy nhỏ bé nhưng đều có một chỗ đứng nhất định trong mối tương quan với vũ trụ và các hạt nhân khác, và không tồn tại vĩnh viễn trong một thực thể nhất định.
Cuộc đời có giới hạn, vậy thì tại sao chúng ta phải mang vác cái tôi nặng nề mà không cởi bỏ nó, để làm một người tự do, ung dung, tự tại và được là chính mình trong cuộc đời này?